Tin khác

Nghiên cứu, đánh giá khả năng ứng phó của doanh nghiệp Việt Nam với khủng hoảng Covid-19

Với sự hỗ trợ của Chương trình Australia hỗ trợ cải cách kinh tế Việt Nam (Aus4Reform), Cục Quản lý đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) tổ chức hội thảo công bố báo cáo “Nghiên cứu, đánh giá khả năng ứng phó của doanh nghiệp Việt Nam với khủng hoảng Covid-19, đề xuất các giải pháp nâng cao khả năng thích ứng của doanh nghiệp trước khủng hoảng”.

Các đại biểu tham gia hội thảo đến từ các Bộ/ngành, viện nghiên cứu, trường đại học, các cơ quan, tổ chức, chuyên gia tư vấn, nhà nghiên cứu khoa học, các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp và cơ quan báo chí đã thảo luận các phát hiện chính của nghiên cứu và phân tích đề xuất kiến nghị và giải pháp nâng cao khả năng thích ứng của doanh nghiệp trước khủng hoảng.

Toàn cảnh Hội thảo

Đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của doanh nghiệp Việt Nam, khiến nhiều doanh nghiệp buộc phải tạm ngừng hoạt động, thậm chí đứng trước nguy cơ phá sản. Doanh nghiệp Việt Nam với đa phần là doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), có quy mô nhỏ và thời gian hoạt động ngắn, vì vậy, thường hạn chế về nguồn lực và kinh nghiệm trong ứng phó với những biến động bất ngờ của nền kinh tế, nhất là trong các cuộc khủng hoảng có tác động trên quy mô rộng và thời gian dài như đại dịch Covid-19. Khi đối diện với các cuộc khủng hoảng, các doanh nghiệp thường không có sự chuẩn bị kịp thời và không có một kế hoạch phù hợp để ứng phó.

Thời gian qua, tình hình chính trị, kinh tế trên thế giới có nhiều biến động phức tạp, khó lường, gây nên các nguy cơ, thách thức mới cho quá trình phục hồi và phát triển của các nền kinh tế, trong đó có Việt Nam. Cộng đồng doanh nghiệp có thể sẽ phải đối mặt với các cuộc khủng hoảng khác như: chiến tranh, dịch bệnh, môi trường, tài chính, nhân sự… Chính vì vậy, các doanh nghiệp cần phải chuẩn bị kế hoạch để ứng phó với những yếu tố rủi ro, bất định, các cuộc khủng hoảng để phát triển một cách bền vững, tăng cường sức đề kháng trước các cuộc khủng hoảng, góp phần nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế. Khủng hoảng Covid-19 là một trường hợp điển hình được lựa chọn để thực hiện nghiên cứu.

Mục tiêu của nghiên cứu tập trung vào việc: (1) làm rõ tầm quan trọng của hoạt động lập kế hoạch ứng phó với khủng hoảng; (2) đánh giá kinh nghiệm, chiến lược, bài học kinh nghiệm ứng phó với khủng hoảng dịch Covid-19 và (3) đưa ra những giải pháp, định hướng nhằm nâng cao năng lực thích ứng với khủng hoảng của doanh nghiệp Việt Nam; (4) đóng góp vào việc xây dựng các chính sách của Chính phủ về hỗ trợ doanh nghiệp trong hoạt động quản trị, nâng cao năng lực dự báo, ứng phó và phục hồi của doanh nghiệp sau các cuộc khủng hoảng trước những biến động của nền kinh tế, đặc biệt đối với các DNNVV; (5) đóng góp vào việc xây dựng các Báo cáo về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Một số phát hiện chính của Nghiên cứu:

Một là, đối mặt với khủng hoảng, gần như các doanh nghiệp phải chuyển đổi mô hình kinh doanh, thay đổi phương thức kinh doanh, thay đổi từ mô hình kinh doanh truyền thống sang mô hình kinh doanh phi truyền thống. Đồng nghĩa với điều đó thì việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT), chuyển đổi số (CĐS) trong doanh nghiệp là một yếu tố sống còn để đảm bảo doanh nghiệp có thể duy trì hoạt động và phát triển.

Các yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp ứng phó khủng hoảng

Hai là, qua các thông tin từ khảo sát và phỏng vấn sâu, đa phần các doanh nghiệp đều có quan điểm chung coi nhân sự là tài sản quý giá nhất của doanh nghiệp, đóng vai trò quan trọng nhất, là yếu tố hàng đầu trong việc duy trì và phát triển doanh nghiệp.

Ba là, quản trị nguồn lực tài chính và cân đối dòng tiền là yếu tố cần thiết đối với bất kỳ doanh nghiệp nào muốn tồn tại, đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng, bởi đây được coi là dòng máu, nguồn sinh lực nuôi sống doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần chuẩn bị nguồn lực với các mức dự trữ tiền, tài sản phù hợp với quy mô hoạt động của doanh nghiệp để có thể đầu tư vào hoạt động sản xuất, tham gia vào các dự án mới hoặc ít nhất là có thể duy trì được hoạt động SXKD ngay cả khi nền kinh tế chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi khủng khoảng. Để hạn chế phần nào những tổn thất có thể xảy ra, doanh nghiệp cần phải thực hiện các biện pháp phòng ngừa để khi vốn kinh doanh nói chung và vốn lưu động nói riêng bị hao hụt, doanh nghiệp có thể có ngay nguồn bù đắp, đảm bảo cho quá trình hoạt động kinh doanh diễn ra liên tục

Những việc doanh nghiệp cần làm 

Bốn là, doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là DNNVV, với đặc điểm là tính linh hoạt cao nhưng sức chống chịu kém. Khi gặp khủng hoảng, thường chưa có chiến lược ứng phó và quản trị rủi ro. Do đó, để hỗ trợ doanh nghiệp, cần có chiến lược ứng phó với khủng hoảng ở tầm quốc gia, định hướng cho doanh nghiệp những việc cần làm ngay và hành động ưu tiên nhằm tiết kiệm nguồn lực và tăng tính hiệu quả cho hoạt động của doanh nghiệp, trong đó có những giải pháp hỗ trợ nhằm tăng khả năng chống chịu của doanh nghiệp trong bối cảnh khủng hoảng.

Năm là, mỗi doanh nghiệp khác nhau, có tiêu chí đánh giá doanh nghiệp thành công vượt qua khủng hoảng Covid-19 khác nhau. Tuy nhiên, có thể thấy có một số tiêu chí chung để đánh giá một doanh nghiệp thành công vượt qua khủng hoảng đó là: doanh nghiệp không bị ngừng hoạt động, lợi nhuận tăng, tìm kiếm được khách hàng mới, năng suất lao động tăng, áp dụng CNTT, CĐS trong quá trình SXKD của doanh nghiệp…

Đề xuất đối với các hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng

Sáu là, các doanh nghiệp do nữ làm chủ thể hiện sự linh hoạt hơn trong thời kỳ khủng hoảng, chủ động hơn trong việc lập kế hoạch dự phòng và áp dụng các chiến lược kinh doanh thận trọng, từ đó tăng khả năng phục hồi của họ trong thời kỳ khủng hoảng.

Các giải pháp trong ngắn hạn và dài hạn:

Từ những phát hiện chính nêu trên, để giúp các doanh nghiệp có thể thích ứng và ứng phó có hiệu quả với các cuộc khủng hoảng, các cú sốc bất ngờ trong tương lai đòi hỏi phải có những giải pháp trong cả ngắn hạn và dài hạn, với quan điểm tiếp cận như sau:

(i) Doanh nghiệp cải thiện và nâng cao năng lực về tài chính để trụ vững, duy trì hoạt động trong khủng hoảng.

(ii) Doanh nghiệp đảm bảo việc làm và khả năng thích ứng cho lao động chủ chốt khi khủng hoảng ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp.

(iii) Nâng cao năng lực ứng phó với khủng hoảng và khả năng chủ động thích ứng với những biến động bất thường của các diễn biến trong và ngoài nước.

(iv) Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chính sách hỗ trợ ngắn hạn giúp doanh nghiệp phục hồi và phát triển. 

(v) Tạo điều kiện thuận lợi về môi trường kinh doanh, thủ tục hành chính nhằm giảm gánh nặng cho doanh nghiệp khi đối diện với khủng hoảng.

Trên cơ sở nghiên cứu và các quan điểm tiếp cận giải pháp, Nhóm nghiên cứu kiến nghị các giải pháp trong ngắn hạn nhằm giúp doanh nghiệp thích ứng linh hoạt và phục hồi hiệu quả, trong đó có một số nội dung chính như sau:

(1) Về phía doanh nghiệp

Một là, cân đối dòng tiền, cắt giảm các khoản chi tiêu chưa cần thiết, đảm bảo hiệu quả hoạt động và dòng tiền của doanh nghiệp.

Hai là, giải quyết ngay những vấn đề phát sinh đột xuất, bất thường có nguy cơ ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp.

Ba là, coi nhân sự là tài sản quan trọng nhất của doanh nghiệp, thường xuyên đối thoại với người lao động, nhất là khi khủng hoảng xảy ra, nhằm đưa ra phương hướng hoạt động, sản xuất cho doanh nghiệp trong bối cảnh khủng hoảng, cũng như thực hiện các giải pháp hiệu quả hỗ trợ người lao động.

Bốn là, chú trọng nâng cao chất lượng các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp, nắm bắt xu hướng tiêu dùng của khách hàng để chuyển hướng kịp thời;

Năm là, thay thế các hình thức, phương thức kinh doanh, các sự kiện bán hàng theo kiểu truyền thống bằng các giải pháp công nghệ mới để khách hàng dễ dàng tiếp cận thông tin, kinh doanh trên các sàn giao dịch điện tử.

Sáu là, các doanh nghiệp cần đa dạng hóa các hình thức huy động vốn.

Bảy là, doanh nghiệp cần chủ động tìm hiểu, nắm bắt thông tin thị trường, tình hình kinh tế, chính trị trong nước và trên thế giới; đa dạng hóa nguồn nguyên liệu đầu vào; tăng cường liên kết thông qua các chuỗi cung ứng và mạng lưới các hiệp hội doanh nghiệp, ngành hàng và địa phương.

(2) Đối với các hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng

- Các hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng cần xây dựng các diễn đàn chia sẻ những bài học về lựa chọn thị trường, đối tác, quan hệ kinh doanh, về đầu tư xây dựng “nội lực” cốt lõi của doanh nghiệp để tăng khả năng chống chịu với các cú sốc.

- Tăng cường tính liên kết giữa các doanh nghiệp hội viên, hợp tác cùng phát triển. Tổng hợp, đề xuất với Chính phủ các giải pháp, sáng kiến để hỗ trợ doanh nghiệp chủ động thích ứng, phục hồi nhanh và phát triển bền vững.

- Phổ biến, tuyên truyền, cập nhật kịp thời các chính sách mới của Chính phủ, chỉ đạo của chính quyền địa phương tới các doanh nghiệp hội viên.

Bên cạnh đó, Nhóm nghiên cứu cũng đề xuất các giải pháp cho sự phát triển dài hạn và ứng phó với khủng hoảng trong tương lai:  

(1) Đối với doanh nghiệp

Thứ nhất, mỗi doanh nghiệp cần xây dựng các kế hoạch hoạt động mang tính chiến lược, dài hạn; hiện đại hóa hệ thống quản trị và quy trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm có sự chuẩn bị tốt nhất, tăng sự chủ động của doanh nghiệp trong trường hợp khủng hoảng và các sự cố bất khả kháng xảy ra.

Thứ hai, nâng cao năng lực quản trị rủi ro để đạt được sức chống chịu kiên cường đối với rủi ro, khủng hoảng.

Thứ ba, nâng cao năng lực thích ứng của doanh nghiệp thông qua việc nâng cao năng lực hoạch định chiến lược.

Thứ tư, các chủ sở hữu, người quản lý doanh nghiệp cần được nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của Quản trị rủi ro trong kinh doanh, từ đó biết cách lập kế hoạch quản trị khủng hoảng cho doanh nghiệp của mình, theo từng mức độ ngắn hạn, trung hạn, dài hạn.

Thứ năm, từng bước chủ động, hình thành thói quen trong việc sử dụng dịch vụ tư vấn về một số lĩnh vực (quản trị nhân sự, pháp lý, tìm hiểu, đánh giá thị trường...) để chủ động phòng ngừa các rủi ro trong kinh doanh.

(2) Đối với các hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng

Thứ nhất, tổ chức các khóa đào tạo nhằm nâng cao năng lực nhận biết khủng hoảng và quản trị khủng hoảng của lãnh đạo doanh nghiệp.

Thứ hai, xây dựng bộ cẩm nang hướng dẫn vượt khủng hoảng hoặc cẩm nang các dấu hiệu nhận biết và cách thức quản trị doanh nghiệp trong bối cảnh khủng hoảng, trong đó, tổng hợp và phân loại các loại khủng hoảng có thể xảy ra, dấu hiệu nhận biết, đặc điểm của từng loại khủng hoảng; Hướng dẫn cách đánh giá mức độ tác động của khủng hoảng đối với doanh nghiệp (thông qua các yếu tố như doanh thu, lao động...). Từ đó, doanh nghiệp sẽ có căn cứ đưa ra các giải pháp ứng phó với khủng hoảng, dựa trên: các giai đoạn của khủng hoảng; tham khảo kinh nghiệm ứng phó với khủng hoảng trước đây của các doanh nghiệp ứng phó hiệu quả, đưa ra giải pháp cải thiện những hạn chế, sai lầm để có giải pháp xử lý phù hợp… Bên cạnh đó, nội dung của cẩm nang cũng cần xác định các nguyên tắc, quy tắc, cách thức thực hiện khi doanh nghiệp đối mặt với khủng hoảng, cũng như hướng dẫn doanh nghiệp xây dựng khung hệ thống kiểm soát khủng hoảng, quản trị khủng hoảng trong nội bộ doanh nghiệp…

Thứ ba, các tổ chức, hiệp hội doanh nghiệp cần chủ động nghiên cứu, đánh giá thách thức, thời cơ, xu hướng kinh doanh, xu hướng thị trường mới của ngành, lĩnh vực, đặc biệt là các yêu cầu về kinh doanh bền vững, kinh doanh xanh; kịp thời chia sẻ, hướng dẫn, hỗ trợ tư vấn cho doanh nghiệp hội viên và ngành hàng.

Thứ tư, đại diện và tăng cường quyền lợi cho các hội viên của mình trong các quan hệ trong nước và quốc tế; làm cầu nối, vận động chính sách, duy trì đối thoại với Chính phủ và quan hệ với các cơ quan, tổ chức trong nước, nước ngoài về xây dựng pháp luật và chính sách điều chỉnh hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là khi có các cuộc khủng hoảng xảy ra.

Thứ năm, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức cho doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp do nữ làm chủ.

----------------------------

Chương trình Australia hỗ trợ cải cách kinh tế Việt Nam (Aus4Reform) do Bộ Ngoại giao và Thương mại Australia (DFAT) tài trợ đã hỗ trợ Chính phủ Việt Nam thực hiện các mục tiêu cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh theo hướng nâng cao năng suất lao động, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế hướng tới phát triển nhanh, bền vững. Chương trình được thực hiện trong thời gian 5 năm, từ 2017 đến 2022.

Nguồn thông tin, liên hệ:

Chương trình Aus4Reform, CIEM, 68 Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội

Email: aus4reform@gmail.com

Ý kiến (0)
TIN MỚI

Ban Từ thiện – cộng đồng HNEW sẽ tiếp tục đồng hành trong...

Những phần quà là các nhu yếu phẩm phục vụ ngày Tết đã...

Dự án
DỰ ÁN TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH KHU VỰC TƯ NHÂN VIỆT NAM (IPSC)